Đóng

Nhận Định Hàng Tuần

Tổng kết nhanh năm 2022_Định hướng đầu tư: VNINDEX 2022 khủng hoảng_2023 nổ lực phục hồi

1.  Cập nhật tín hiệu:

           * MATRIX_FILTER VIP

           * PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG_KHUYẾN NGHỊ CỔ PHIẾU

           * BIỂU TÂM LÝ VIX_INDEX_DÒNG TIỀN

           * ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN VIP

2. Thống kê thị trường:

   * BIỂU TÂM LÝ VIX_INDEX_DÒNG TIỀN

3.  Tổng quan thị trường_Định hướng đầu tư:  

      Chi tiết thống kê nhận định, phân tích thị trường, khuyến nghị cổ phiếu sẽ tích hợp cung cấp trực tiếp trong  PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG_KHUYẾN NGHỊ CỔ PHIẾU 

     * PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG_KHUYẾN NGHỊ CỔ PHIẾU

  + Quý khách hàng và thành viên thường niên nhấn vào link hoặc xem nhận định được cấp quyền mở trực tiếp trên website MatrixBuySell.com. Các báo cáo nhận định thị trường sẽ cập nhật trở lại trên website Matrixbuysell.com 01 tuần sau đó.

.

1. Thống kê thị trường:

    + Số lượng mã có xu hướng tăng ngắn hạn tiếp tục giảm, tốc độ giảm manh hơn. Nhiều mã tiếp tục kết thúc giai đoạn tăng trưởng ngắn hạn, chuyển sang điều chỉnh tích lũy. Số mã có trend_up trung hạn vẫn đang gia tăng, tốc độ tăng tốt hơn và có thể thoát khỏi vùng tê liệt trong tuần tiếp theo_ Đây là điều kiện cần để có thể kỳ vọng VNINDEX thoát khỏi xu hướng giảm giá kéo dài từ tháng 03, 04/2022 đến nay. Số lượng mã có vùng bán ngắn hạn giảm. Số lượng mã có vùng mua ngắn hạn giảm, lớn hơn số mã có vùng bán. Tập trung nhiều vào nhóm xây dựng, đầu tư công, bảo hiểm… Nhóm mã tiếp tục cải thiện xu hướng trung hạn tập trung nhiều vào nhóm xây dựng, vật liệu xây dựng. Áp lực cung VN30 giảm, lực cầu ngắn hạn giảm. Áp lực cung ngắn hạn VNINDEX đang giảm từ vùng đỉnh, vẫn lớn hơn lực cầu, lực cầu ngắn hạn gia tăng.

    + Số mã có dòng tiền ngắn hạn tăng trở lại ở vùng 25%, dòng tiền ngắn hạn cải thiện nhưng chỉ tập trung vào số ít các mã. Tâm lý ngắn hạn vẫn kém lạc quan, trong vùng bi quan, lo sợ. Để tâm lý ngắn hạn có thể cải thiện, đảo chiều tích cực trở lại VNINDEX cần giữ được vùng hỗ trợ 1000+- và vượt lên lại kháng cự gần nhất 1020-1025_giá đóng cửa các phiên 20-24/12/2022 trong vài phiên đến.

2. Tổng quan thị trường_Định hướng:

    + VNINDEX đã kết thúc năm tài chính 2022. VNINDEX mở đầu năm 2022 ở mức giá 1508,55 điểm, đạt đỉnh trong vùng 1500-1536,45 điểm trong tháng 01-03/2022, giảm mạnh về vùng giá đáy trung hạn 873-900 trong tháng 11/2022. Kết thúc năm 2022 VNINDEX ở mức 1007,09 điểm, giảm mạnh -32,78%, mức giảm điểm mạnh chỉ thua kém năm 2008_thời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới. Khối lượng giao dịch của VNINDEX đạt 158,149 tỉ cổ phiếu giảm -12,41% so với năm 2021 và vẫn cao gấp 02 lần so với năm 2020. VNINDEX duy trì được trend_line tăng trưởng dài hạn nối các vùng giá thấp nhất nhiều năm, tính từ năm 2000 đến nay tương ứng vùng giá 880-900. Xu hướng định giá của VNINDEX hiện tại đang suy giảm với vùng định giá 1060-1100, tốc độ suy giảm 3-4% hàng quý. Như vậy rất khó kỳ vọng vào VNINDEX ở thời điểm hiện tại, trừ khi các yếu tố nội tại của thị trường cải thiện tăng trưởng và được xác nhận khi xu hướng định giá chuyển từ suy giảm sang tích lũy. Tổng vốn hóa thị trường hiện tại là 224+- tỉ USD_55%+-/GDP 2022 (cập nhật mới GDP 2022 tương ứng 405 tỉ USD, tỉ giá 23500VND). Vốn hóa VN30 120+- tỉ USD_54%+- vốn hóa toàn thị trường. Vốn hóa nhóm ngân hàng 74+- tỉ USD_32,9%+- vốn hóa toàn thị trường.

    + Những yếu tố cơ bản được xem là nguyên nhân của đợt suy giảm mạnh trong năm 2022 bao gồm:

  (1) Ở thời điểm VNINDEX 1500-1530 vốn hóa thị trường quá cao, vượt hơn 100% GDP. Hiện tại vốn hóa thị trường tương đương 55%+- GDP 2022_GDP 2022 tăng trưởng 8,02% so với 2021. Mức vốn hóa hiện tại là rẽ nếu so sánh với tiềm năng tăng trưởng năm 2023, 2024…. Giả định vốn hóa thị trường sẽ đạt 100% GDP trong năm 2025 theo mục tiêu của Chính Phủ thì VNINDEX sẽ có thời điểm đạt quy mô vốn hóa của thị trường trong năm 2025 có thể đạt 450-470 tỉ USD, tăng 100-110% so với vốn hóa 224 tỉ USD hiện tại.

  (2) Kết thúc chu kỳ tiền rẽ khi FED tăng lãi suất điều hành, kế hoạch dự kiến tăng thêm 0,5-0,75% từ mức 4,25-4,5% cuối năm 2022 lên 5% trong năm 2023. Có thể sẽ tiếp tục tăng 0,5% trong tháng 02,03/2023 và 0,25% trong quí III/2023. Tuy nhiên kể cả khi kỳ vọng FED sẽ giảm lãi suất xuống trong năm 2024 thì dự kiến lãi suất điều hành cũng sẽ duy trì ở môi trường lãi suất cao trên 4%. Điều này dẫn đến dòng tiền hay tỉ trọng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ vẫn sẽ gia tăng và duy trì ở mức cao kéo dài.

  (3) Ngân hàng Nhà nước cũng đã điều hành lãi suất tương ứng, đồng thời siết chặt tín dụng, cung tiền M2 với tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 liên tục suy giảm các tháng trong năm 2022, chỉ được cải thiện trong 02 tháng cuối năm với mức tăng trường cả năm 7%+- so với năm 2021, thấp hơn nhiều so mức tăng trưởng trung bình 14% giai đoạn 2012-2021. Kỳ vọng trong năm 2023 cung tiền M2 có thể cải thiện tốt hơn ở mức thấp trong năm 2022 với tốc độ tăng trưởng 11-12%, hỗ trợ tốt hơn cho dòng tiền luân chuyển trong thị trường. Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục duy trì điều hành chặt chẽ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng GDP, tăng trưởng cung tiền trên nền lãi suất điều hành duy trì ở mức trung bình cao, tăng trưởng huy động thấp. Nhóm cổ phiếu ngân hàng, vốn hóa chiếm tỉ trọng cao trong thị trường khó có thể kỳ vọng tăng trưởng cao.

  (4) Siết chặt tín dụng, tăng trưởng cung tiền thấp kỹ lục, lãi suất cao dẫn đến bùng phát phát trái phiếu doanh nghiệp trong lĩnh vực Bất Động sản đưa đến khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp, đứt gãy dòng tiền ngắn hạn. Tổng giá trị trái phiếu bất động sản sẽ đáo hạn duy trì ở cao trong năm 2023 (119,05 nghìn tỷ đồng) và năm 2024 (111,81 nghìn tỷ đồng). Như vậy nhóm cổ phiếu bất động sản chiếm vốn hóa lớn trong thị trường và các ngân hàng có tỉ trọng trái phiếu doanh nghiệp cao, tỉ trọng cho vay BDS cao, không thể có kỳ vọng cải thiện tích cực cho đến khi các vấn đề Trái phiếu được xử lý_Ít nhất cũng phải 2/3 lượng trái phiếu đáo hạn được tất toán (sớm nhất có thể kỳ vọng trong quý I/2024), nghị định 65 được chính thức sửa đổi và luật đất đai sửa đổi được thông qua.

  (5) Chiến tranh Nga – Ukraine kéo dài, leo thang xung đột địa chính trị và kinh tế giữa Nga và EU. Rủi ro trì trệ kinh tế kéo dài.

 

Khó khăn, rủi ro ập đến đồng loạt, bao phủ với hiệu ứng domino dẫn đến VNINDEX có năm 2022 yếu kém, giảm điểm khủng hoảng bất chấp các yếu tố được xem là tích cực như tăng trưởng GDP duy trì mức cao, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục lập kỹ lục mới, duy trì xuất siêu, ngân sách duy trì bội thu… Thị trường, VNINDEX sẽ có niềm tin, kỳ vọng khi 01-02 trong 05 yếu tố suy giảm trên kết thúc và chỉ có thể kỳ vọng tăng trưởng khi và chỉ khi ít nhất 4/5 yếu tố kết thúc. Do đó trong nữa đầu năm 2023, có thể kéo dài đến Q3/2023 chỉ kỳ vọng số ít mã nhóm mã có tăng trưởng vượt trội, mang lại khẳ năng sinh lợi tốt, và có thể hy vọng vào nhóm cổ phiếu đầu tư công, hạ tầng. Trong nữa đầu năm sau, có thể phải cuối quí 03/2023 thị trường chung VNINDEX mới có thể kỳ vọng tốt hơn khi các yếu tố của nhóm cổ phiếu bất động sản, ngân hàng chiếm tỉ trọng vốn hóa lớn, các vấn đề về trái phiếu, lãi suất dần hạ nhiệt.

 

     Những yếu tố kỳ vọng trong năm 2023.

 

  • Định giá, vốn hóa thị trường ở mức thấp kỹ lục so với GDP và tăng trưởng GDP kỳ vọng. Dẫn đến áp lực bán trung dài hạn hiện tại thấp. Nhà đầu tư nước đang giải ngân mua ròng kỹ lục. Dòng tiền lớn đang dần gia tăng ở nhiều mã, nhóm mã với chu kỳ giải ngân kéo dài 02-04 tháng, chu kỳ tham gia có thể kéo dài 12-18 tháng.
  • Trung Quốc mở cửa, chấm dứt giai đoạn Zero Covid sẽ giúp cho nền kinh tế Thế giới không bước vào chu kỳ suy thoái.
  • Trong mỗi chu kỳ, trong 01 năm luôn luôn có 01-02 nhóm ngành sẽ tăng trưởng vượt trội. Hy vọng với ngân sách duy trì bội thu, Chính phủ đang và sẽ tiếp tục đẩy mạnh chi giải ngân đầu tư công, giải quyết điểm nghẽn hạ tầng là động lực để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Là yếu tố chính để kỳ vọng nhóm ngành vượt trội hơn trong 2023.

 

           VNINDEX dự kiến kỳ vọng đạt mức 1200-1250 trong năm 2023 với thời điểm VNINDEX có thể chính thức thoát khỏi trend_line giảm giá trung dài hạn kéo dài từ tháng 03,04/2022 đến hiện nay trong nữa đầu tháng 02/2023 (sẽ hiệu chỉnh chính xác hơn phụ thuộc vào số lượng mã có xu hướng trung hạn tăng trưởng trong các báo cáo hàng tuần tiếp theo), để bắt đầu xác nhận kết thúc suy giảm kéo dài và hướng tới vùng gíá kỳ vọng 1200-1250. Điều kiện cần để xác nhận các yếu tố này là xu hướng ngắn hạn của VNINDEX phải xác nhận tăng trưởng và xu hướng định giá của VNINDEX phải chuyển từ suy giảm sang tích lũy (sẽ được cập nhật chi tiết ở những bản tin tiếp theo), cũng như thống kê cho thấy số mã thoát khỏi xu hướng giảm giá trung hạn cải thiện vượt khỏi vùng tê liệt. Nhóm vận tải dầu khí, vật liệu xây dựng, thủy sản, ngân hàng nhà nước… là đã có những mã, nhiều mã đại diện vượt xu hướng giảm giá trung hạn. Kỳ vọng nhóm liên quan đến đầu tư công, hạ tầng như vật liệu xây dựng, xây dựng sẽ có hồi phục, tăng trưởng tốt hơn so với thị trường chung… Trong đó nhóm đầu tư công kỳ vọng các ngành đầu vào, giai đoạn đầu như đá và nhựa đường giai đoạn cuối sẽ có kỳ vọng tăng trưởng tốt hơn nhóm xây dựng, thép, xi măng nhờ lợi thế cạnh tranh, biên lợi nhuận tốt hơn và tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn.

    + Khối lượng giao dịch năm 2022 (158.149.148.672 cổ phiếu) giảm -12,41% so với năm 2021 (180.564.951.040 cổ phiếu) và vẫn cao hơn 02 lần so với năm 2020 (78.080.466.944 cp). Mức trung bình 03 năm 2020-2022 là khoảng 139 triệu cổ phiếu. Như vậy khẳ năng khối lượng giao dịch của năm 2023 cũng chỉ đạt mức trung bình 139+- triệu cổ phiếu ở trường hợp tích cực, tương đương mức giảm -12%+- so với năm 2022. Trường hợp kém tích cực hơn sẽ đạt 110-120 tỉ cổ phiếu tương ứng mức trung bình 04 năm từ 2019-2022_giảm khoảng -25%+- so với năm 2022.

    + Ngắn hạn khẳ năng sinh lợi vẫn giảm khá mạnh, thị trường phân hóa rất mạnh với thanh khoản giảm kỹ lục trong những ngày cuối năm, chưa có thể bảo đảm thanh khoản sẽ cải thiện trong những ngày đầu kỳ năm 2023. Do đó các vị thế mở mới, hay đầu tư nắm giữ cần có kỳ vọng chính dựa trên tổng vốn hóa thị trường đang ở mức rất thấp so với GDP và tăng trưởng GDP tương lai. Và chọn lọc cổ phiếu để gia tăng đầu tư cần tập trung vào số ít mã đang có dòng tiền gia tăng, khối lượng giao dịch duy trì trên mức trung bình, và những mã đang có xu hướng ngắn hạn tăng trưởng, vượt được trend_line giảm giá trung hạn kéo dài trước VNINDEX như trên. Xu hướng ngắn hạn chỉ cải thiện tốt hơn khi VNINDEX vượt lên lại vùng kháng cự 1010+-. VNINDEX có vùng kháng cự mạnh 1030+- tương ứng đỉnh giá năm 2019 và trend_line ngắn hạn nối đỉnh 1099,45 ngày 05/12/2022 và đỉnh 1065,59 ngày 19/12/2022, cần phải break qua với khối lượng cải thiện trên mức trung bình thì lực cầu, tâm lý và dòng tiền ngắn hạn có thể gia tăng. Chi tiết tham khảo các danh mục.